Chia sẻ

Thuyết Nhịp Sinh Học: Đúng hay Sai? Kết quả từ những cuộc kiểm tra và thử nghiệm

Lược dịch từ bài tiếng Anh Biorhythm Theory: True or False? Some Results from Trials and Experiments.

Có một sự thực là cả Marilyn Monroe và Judy Garland đều bị sốc thuốc vào những ngày “nguy hiểm” trong chu kỳ nhịp sinh học của họ (khi nhịp sinh học các đường chính như sức khỏe, tình cảm chạm ngưỡng xấp xỉ 50%). Ngẫu nhiên ư? Hay là nghiên cứu nhịp sinh học có thể đã cứu được họ.

Câu hỏi này – có hay không việc theo dõi các chu kỳ nhịp sinh học có thể thực sự tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống con người – đã được nghiên cứu từ những năm 60, khi những bài viết của George S. Thommen phổ biến ý tưởng này.

Vài công ty bắt đầu thử nghiệm và mặc dù Nhật Bản là nước đầu tiên áp dụng thuyết nhịp sinh học vào quy mô lớn, Thụy Sĩ mới là nơi đầu tiên nhận thấy được ích lợi của nhịp sinh học trong việc giảm thiểu tai nạn.

Máy bay, tàu lửa và ô tô

Hans Frueh đã phát minh ra Bio-Card và Bio-Calculator, và Thụy Sĩ được cho là đã áp dụng nhịp sinh học nhiều năm trước những thử nghiệm của người Nhật. Hãng hàng không Thụy Sĩ, Swissair, đã từng nghiên cứu các ngày “nguy hiểm” của phi công trong gần một thập kỷ, không cho phép phi công lái máy bay trong ngày “nguy hiểm”. Trong báo cáo của họ, Swissair không có tai nạn lớn nhỏ nào xảy ra trong những chuyến bay mà nhịp sinh học được áp dụng theo dõi.

Tuy nhiên có một kết quả ngoại lệ được phát hiện bởi Federal Aviation Administration và U.S. National Transportation Safety Board, đã kiểm tra hồ sơ 8.625 phi công liên quan đến các vụ tai nạn hàng không. Họ không thấy sự liên hệ nào giữa chỉ số nhịp sinh học kém và các tai nạn.

Công ty Giao thông Đô thị Thành phố Zurich, Thụy Sĩ báo cáo tỉ lệ tai nạn xe buýt và xe điện trên 10,000 km đã được giảm khoảng 50 phần trăm chỉ trong vòng 1 năm áp dụng nhịp sinh học. Kết quả tương tự cũng đã được báo cáo bởi Công ty Giao thông Đô thị Thành phố Hannover, Đức.

Những thử nghiệm đáng nói nhất được diễn ra trong lĩnh vực thể thao khi những kỳ tích thể thao thường xảy ra trong những ngày cực đại của nhịp sinh học. Ví dụ như là trận đấu giữa nữ VĐV quần vợt Billie Jean King và nam VĐV Bobby Riggs đã có kết quả chiến thắng dành cho bà và trận đấu diễn ra khi bà có 2 chỉ số nhịp sinh học đạt mức cao.

Lực đẩy lớn nhất trong làn sóng các ứng dụng nhịp sinh học ở Nhật Bản được thực hiện bởi Cảnh sát giao thông và các tổ chức an toàn giao thông khác. Cảnh sát Đô thị Thành phố Tokyo – Tokyo Metropolitan Police – đã phát hành một bài nghiên cứu vào năm 1971, nhấn mạnh rằng hơn 80 phần trăm các vụ tai nạn giao thông trong vòng một năm trước đó xảy ra vào ngày “nguy hiểm” của lái xe. Vào cùng thời gian, Cảnh sát Thành phố Osaka cũng phát hành nghiên cứu về nhịp sinh học rằng 70 phần trăm các vụ tai nạn giao thông của những người trẻ xảy ra vào ngày “nguy hiểm” của họ.

Tại một vài nơi ở Nhật Bản, những người nhận bằng lái xe lần đầu tiên hoặc gia hạn bằng đã nhận được biểu đồ nhịp sinh học được cá nhân hóa. Kết quả là một sự giảm đáng kể tỉ lệ tai nạn. Nhiều công ty bảo hiểm Nhật còn giúp tài trợ những khóa học lái xe an toàn dựa vào nhịp sinh học và khuyến khích công nhân ở Nhật nhận biểu đồ nhịp sinh học trong phong bì tiền lương của họ.

An toàn lao động

Vào tháng 7 năm 2008, tôi (tác giả bài viết) đã nói chuyện với một nhân viên đã nghỉ hưu của công ty Dầu mỏ Texaco – Texaco Oil, ông Stephen Marsh, từng phụ trách các chương trình an toàn lao động cho công ty dầu mỏ này. Nhằm tạo động lực thúc đẩy cho sự an toàn cho công nhân và ngăn chặn các ca chấn thương khi làm việc, Marsh đã xem báo cáo về việc người Nhật đang ứng dụng nhịp sinh học như thế nào. (Công ty Đường sắt Ohmi – Ohmi Railway – ghi nhận đóng góp của nhịp sinh học với thành tích không tai nạn. Họ đã dành 2 năm nghiên cứu việc cho nhân viên đường sắt mang thẻ nhân viên mỗi sáng dựa vào chỉ số nhịp sinh học của họ – xanh lá, vàng hoặc đỏ – và những người mang thẻ màu đỏ được cho nghỉ ngơi.)

Năm đầu tiên họ “khá thành công”, Marsh nói, vì thế ông quyết định thử nghiệm. Ông chọn một khu vực có nhiều tai nạn lao động nhất: San Ardo, California. Năm 1976, lục lượng lao động gồm khoảng 120 nhân viên và tất cả đều tham gia vào quá trình sản xuất dầu mỏ – một công việc rất nguy hiểm. Các biểu đồ nhịp sinh học được chuẩn bị cho tất cả nhân viên và họ được theo dõi rất cẩn thận trong vòng 6 tháng thử nghiệm.

Trong thời gian này, họ đã thấy số ca sơ cứu giảm khoảng một nửa. Không có nhóm nào khác để so sánh. Mặc dù có “kết quả thỏa mãn”, cuộc thử nghiệm đã dừng lại do kinh phí và sự phức tạp của việc quản lý và điều hành với số lượng lớn.

Bình luận
Chuyên mục: Khác

Scroll Up